Khi nói đến thơ thu là người ta lại nhớ đến chùm thơ thu bất hủ của Nguyễn Khuyến: Thu ẩm, Thu Vịnh, Thu Điếu. Mùa thu trong thơ ông rất đẹp, rất thanh nhưng cũng rất buồn. Cái buồn man mác, cái buồn bế tắc của một người thi sĩ bất lực trước nhân thời thế thái:

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.

(Thu ẩm)

Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễu Chi, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835, tại quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam Ninh nay là huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của ông ở làng Vị Hạ (tục gọi là làng Và), xã Yên Đổ nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam . Ông mất ngày 5 tháng 2 năm 1909 tại Yên Đổ.

Nguyễn Khuyến ra làm quan giữa lúc nước mất nhà tan, cơ đồ nhà Nguyễn như sụp đổ hoàn toàn nên giấc mơ trị quốc bình thiên hạ của ông không thực hiện được. Nguyễn Khuyến là người có phẩm chất trong sạch, mặc dù ra làm quan nhưng nổi tiếng là thanh liêm, chính trực. Nhiều giai thoại kể về đời sống và sự gắn bó của Nguyễn Khuyến đối với nhân dân. Ông là người có tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc trước cuộc sống và gắn bó với thiên nhiên.

Có lẽ chính vậy mà chùm thơ Nguyễn Khuyến luôn gắn với thiên nhiên cây cỏ, gắn với nhân dân với hồn thơ chân chất mộc mạc dễ gần. Bằng tất cả tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước con người. Bằng tâm hồn của một người nghệ sĩ thanh đạm. Nguyễn Khuyến đã để lại cho đời một kho tàng thơ văn đồ sộ với hơn 400 bài cả thơ chữ Hán và thơ nôm.

Dưới đây là 25+ bài thơ hay của Nguyễn Khuyến được chúng tôi sưu tầm và chọn lựa. Mời bạn đọc cùng Gocbao.com thưởng thức những vần thơ bất tử của thi sĩ tài ba Nguyễn Khuyến các bạn nhé!

Nhà thơ Nguyễn Khuyến

Xem thêm: Tuyển Chọn 21+ Bài Thơ Hay & Đặc Sắc Nhất Của Chế Lan Viên

1. Chùm thơ Nguyễn Khuyến về mùa thu

  • Thu Điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước ocuaso.com/tag/gio – gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

  • Thu Ẩm

Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.

  • Thu Vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

2. Muốn Lấy Chồng

Bực gì bằng gái trực phòng không?
Tơ tưởng vì chung một tấm chồng.
Trên gác rồng mây ngao ngán đợi,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui, lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại, nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.

3. Bạn đến chơi nhà

Đã bấy lâu nay bác tới nhà.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây ta với ta

4. Cá chép vượt đăng

Cá thần vùng vẫy vượt qua đăng,
Được nước, nào ai dám rỉ răng?
Cưỡi gió giương vây lên cửa Vũ,
Xông mây rẽ sóng động vừng trăng,
Giếc, rô ngứa vẩy khôn tìm lối,
Trê, chuối theo đuôi dễ mấy thằng!
Gặp hội hoá rồng nơi chót vót
Đã lên, bay bổng tít bao chừng?

5. Cảm hứng tuổi già

Tháng ngày thấm thoắt tựa chim bay,
Ông gẫm mình ông, nghĩ cũng hay.
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ!
Răng long ngày trước hãy còn đây.
Câu thơ được chửa? Thưa rằng được.
Chén rượu say rồi. Nói chửa say.
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông này

6. Châu chấu đá voi

Châu chấu làm sao dám đá voi,
Đứng xem ta cũng nực cơn cười.
Loe xoe sấn lại dương đôi vế,
Ngứa ngáy không hề động nửa đuôi.
Hay giở cuộc này ba chén rượu,
Được thua chuyện ấy một trò chơi.
Nghĩ ra ta cũng thương mình nhỉ,
Theo đít còn hơn một lũ ruồi!

7. Chế học trò ngủ gật

Trò trẹt chi bay học cạnh thầy,
Gật gà gật gưỡng nực cười thay!
Giọng khê nồng nặc không ra tiếng,
Mắt lại lim dim nhắp đã cay.
Đồng nổi đâu đây la liệt đảo,
Ma men chi đấy tít mù say.
Dễ thường bắt chước Chu Y đó
Quyển có câu thần vậy gật ngay.

8. Chừa rượu

Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
Hay ưa nên nỗi không chừa được.
Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa.

9. Cua chơi trăng

Vằng vặc đêm thu ánh xế chừng,
Ham thanh, cua mới muốn chơi trăng.
Nghiêng mai lách ngược qua dòng biếc,
Ghé yếm bò ngang nhởn bóng hằng.
Cung quế chờn vờn hương mới bén,
Vườn đào thoang thoảng gió như nâng.
Một mai cá nước cua vui phận,
Trăng muốn tìm cua, dễ được chăng?

(Tương truyền khi tác giả còn ít tuổi, mắt ông đã kèm nhèm, vậy mà lại ngấp nghé con gái một ông cử ở làng bên. Cô này đem chuyện mách cha, ông cử liền cho mời ông đến, buộc phải làm bài thơ, lấy đầu đề là “Cua chơi trăng”, lấy chữ “trăng” làm vần. Thấy cái đầu đề có vẻ dè bỉu,  ông tuy bực mình, song cũng ngâm ngay 8 câu, ý nói “ngày nay khinh cua, nhưng rồi cua gặp hội may (thi đỗ), bấy giờ trăng muốn tìm cua chưa chắc đã được”.) – Chỉ 8 câu thơ ngắn gọn nhưng đã ném vào người đã khinh bỉ mình một cái căm hờn mỉa mai thâm thúy.

10. Duyên nợ

Mưỡu:
Cái duyên hay cái nợ nần,
Khi xa xa lắc, khi gần gần ghê.
Dấu hồng còn gửi tuyết nê,
Khi bay nào biết đông tê bóng hồng.

Nói:
Giai nhân nan tái đắc,
Mười ba năm một giấc bâng khuâng.
Động hơi thu chợt nhớ đến vầng trăng,
Chén non nước tưởng chừng đâu bửa nọ.
Quá nhãn quang âm quân dĩ ngộ,
Thiếu thời phong độ ngã do liên.
Lại may mà gió mát đưa duyên,
Mượn thơ thánh, đàn tiên khuây chuyện cũ.
Đối tửu mạc đề ly biệt cú,
Chốn non Vu vân vũ hãy đi về.
Cánh hồng nào biết đông tê.

11. Đêm mùa hạ

Tháng tư đầu mùa hạ,
Tiết trời thực oi ả,
Tiếng dế kêu thiết tha,
Đàn muỗi bay tơi tả.
Nỗi ấy biết cùng ai,
Cảnh này buồn cả dạ.
Biếng nhắp năm canh chầy,
Gà đà sớm giục giã.

12. Đêm đông cảm hoài

Nỗi nọ, đường kia xiết nói năng!
Chẳng nằm, chẳng nhắp, biết mần răng?
Đầu cành, mấy tiếng chim kêu tuyết.
Trước điếm, năm canh chó sủa trăng.
Bảng lảng lòng quê khôn chợp được.
Mơ màng cuộc thế cũng cầm bằng.
Canh gà eo óc đêm thanh thả,
Tâm sự này ai có biết chăng?

13. Đĩ cầu Nôm

Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?
Trời sinh ra cũng để mà chơi!
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời,
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
Đĩ bao tử càng chơi càng lịch,
Tha hồ cho khúc khích chị em cười:
Người ba đấng, của ba loài,
Nếu những như ai thì đĩ mốc.
Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc
Khá khen thay làm đĩ có tông
Khắp giang hồ chẳng chốn nào không.
Suốt Nam Bắc Tây Đông đều biết tiếng.
Đĩ mười phương chơi cho đủ chín,
Còn một phương để nhịn lấy chồng.
Chém cha cái kiếp đào hồng,
Bạn với kẻ anh hùng cho đứng số.
Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó,
Mai sau ngày giỗ có văn nôm.
Cha đời con đĩ cầu Nôm.

14. Gái rửa bờ sông

Thu vén giang sơn một cặp tròn,
Nghìn thu sương tuyết vẫn không mòn.
Biết chăng chỉ có ông Hà Bá,
Mỉm mép cười thầm với nước non.

15. Hoạn Thư ghen

Chị Hoạn ghen tuông khéo giở đời
Cơ duyên lỏng lẻo buộc chân người
Cánh buồm mặt bể vừa êm sóng
Vó ký chân đèo bỗng đến nơi
Con ở ngẩn ngơ nhìn mặt chủ
Nhà thầy tưng hửng mất đồ chơi
Ông trời rõ khéo chua cay nhỉ
Một cuộc bày ra cũng nực cười.

16. Khuyên vợ cả

Ta chẳng như ai lối nguyệt hoa
Trước là ngẫm nghĩ nỗi gần xa:
Lấy năm thì cũng dành ngôi chính,
Dấu bẩy càng thêm vững việc nhà.
Mọi việc cửa nhà là việc nó
Mấy con trai gái ấy con ta.
Thôi đừng nghĩ sự chi chi cả:
Chẳng chữ gì hơn chữ thuận hòa!

17. Lấy Tây

Con gái đời này, gái mới ngoan,
Quyết lòng ẩu chiến với Tây quan.
Ba vuông phất phới cờ bay dọc
Một bức tung hoành váy xắn ngang.
Trời đất khéo thương chàng bạch quỉ
Giang san riêng sướng ả hồng nhan
Nghĩ càng thêm ngán trai thời loạn,
Con gái đời nay, gái mới ngoan!

18. Mua quan tài

Ba vua bốn chúa bảy thằng con,
Thắm thoát xuân thu bảy chục tròn.
Ơn nước chưa đền danh cũng hổ,
Quan tài sẵn có chết thì chôn.
Giang hồ lang miếu trời đôi ngả,
Bị gậy cân đai đất một hòn.
Cũng muốn sống thêm mươi tuổi nữa,
Sợ ông Bành Tổ tống đồng môn.

19. Mẹ Mốc

So danh giá ai bằng mẹ Mốc,
Ngoài hình hài, gấm vóc, cũng thêm ra.
Tấm hồng nhan đem bôi lấm xoá nhoà,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim.
Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm,
Giữ son sắt êm đềm một tiết.
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ,
Đắp tai ngảnh mặt làm ngơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây.
Khôn em dễ bán dại này!

20. Nghe hát Trung Thu

Một khúc đêm khuya tiếng đã đầy,
Nửa trên mặt nước nửa tầng mây.
Nghĩ mình vườn cũ vừa lui bước,
Ngán kẻ phương trời chẳng lựa dây.
Bẻ liễu Thành Đài lâu cũng dẹp,
Trồng lan ngõ tối ngát nào hay.
Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng,
Chén rượu bên đèn luống tỉnh say.

21. Nhất vợ nhì giời

Nghĩ truyện trần gian cũng nực cười!
Giời nào hơn vợ, vợ hơn giời?
Khôn đến mẹ mày là có một,
Khéo như con tạo cũng thời hai.
Giời dẫu yêu vì, nhưng có phận,
Vợ mà vụng dại, đếch ăn ai.
Cớ sao vợ lại hơn giời nhỉ?
Vợ chỉ hơn giời có cái trai!

22. Tặng bà Hậu Cẩm

Nghĩ xem đẹp nhất ở làng Và,
Tiếc gọi rằng già cũng chửa già
Làn sóng liếc ngang đôi mắt phượng
Tóc mây rủ xuống một đuôi gà.
Nói năng duyên dáng coi như thể…
Đi đứng khoan thai thế cũng là…
Nghe nói muốn thôi, thôi chửa được,
Được làm dơ dở đã thôi a ?

23. Tặng cô đào Lựu

Ngày xưa Lựu muốn lấy ông,
Ông chê Lựu bé, Lưu không biết gì.
Bây giờ Lựu đã đến thời,
Ông muốn lấy Lựu, Lựu chê ông già
Ông già ông khác người ta,
Những cái nhi nhắt, ông ma bằng mười.

24. Than nghèo

Chẳng khôn cũng biết một hai điều
Chẳng tội gì hơn cái tội nghèo.
Danh giá dường này không nhẽ bán,
Nhân duyên đến thế hãy còn theo.
Tấm lòng nhi nữ không là mấy,
Bực chí anh hùng lúc túng tiêu.
Có lẽ phong trần đâu thế mãi,
Chốn này tình phụ, chốn kia yêu

25.Thầy đồ mắc lừa gái

Nắng mưa lần lữa tháng ngày,
Cô tiêu đã lắm thầy vay cũng nhiều.
Yêu người, người lại chẳng yêu,
Chiều hoa, hoa lại chẳng chiều mới căm.
Có đêm thanh vắng bóng hằng,
Thầy đương dở chén cô băng vội nằm,
Trời mưa dở trống canh năm,
Vớ đôi áo mỏng với dăm áo dày.
Thầy đương dở giấc nào hay,
Tỉnh ra cô đã bỏ thầy cô đi…

Đọc thêm: Chùm thơ Bùi Giáng hay nhất

Trên đây là bài viết về Top 25+ bài thơ hay nhất của Nguyễn Khuyến? Mong rằng sẽ giúp ích cho các bạn có thêm nhiều kiến thức hay và bổ ích về thơ Nguyễn Khuyến trong kho tàng văn học Việt Nam. Đừng quên đồng hành với chúng tôi để cập nhật đầy đủ nhất những bài thơ nổi tiếng bất hủ của nền văn học nước nhà các bạn bạn nha. Cuối cùng Gocbao.com chúc toàn thể bạn đọc sức khỏe, tình yêu và hạnh phúc trong cuộc sống.Thân ái!

0/5 (0 Reviews)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *